Thống kê truy cập

461888
Hôm Nay
Hôm Qua
Tổng Cộng
13
575
461888

Server Time: 00:25:48 20-04-18
Bạn đang ở: Home Pháp luật dân sự và tố tụng dân sư Luật hợp đồng VIệt Nam: Bản án và bình luận bản án: Tập 1 : Sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ bảy/ PGS. TS. Đỗ Văn Đại. - Tp.HCM: Nxb. Hồng Đức, 2018. - 980 tr.; 21cm

Luật hợp đồng VIệt Nam: Bản án và bình luận bản án: Tập 1 : Sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ bảy/ PGS. TS. Đỗ Văn Đại. - Tp.HCM: Nxb. Hồng Đức, 2018. - 980 tr.; 21cm (Mã: 00103812)

Giá: 173.000 VNĐ
Đánh giá:

PGS. TS. ĐỖ VĂN ĐẠI

Giảng viên Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Thành viên Tổ biên tập, Chuyên gia chỉnh lý Dự thảo BLDS tại Quốc Hội

Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)

 

LUẬT HỢP ĐỒNG VIỆT NAM

BẢN ÁN VÀ BÌNH LUẬN BẢN ÁN

 

 

TẬP 1

Xuất bản lần thứ bảy

SÁCH CHUYÊN KHẢO

 

 

 

À ma femme Bích Tho

À mes fils Trí Cường et Anh Khôi

À ma famille Brachet de la Valette en France

Et à toute ma famille au Vietnam

 


PGS. TS. ĐỖ VĂN ĐẠI (Sinh năm 1974)

- Trưởng khoa Luật dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;

- Nguyên Giảng viên Trường đại học Paris 13, Cộng hòa Pháp;

- Giáo sư thỉnh giảng tại nhiều Trường đại học của Cộng hòa Pháp và Đại học Hoàng gia Campuchia;

- Thành viên Tổ Biên tập Bộ luật dân sự sửa đổi năm 2015;

- Chuyên gia chỉnh lý Dự thảo sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2015 tại Quốc Hội;

- Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC);

- Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học pháp lý, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC);

- Thành viên Hội đồng tư vấn án lệ Tòa án nhân dân tối cao;

- Thành viên Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ Ban quản lý an toàn thực phẩm TP. Hồ Chí Minh;

- Đại diện tại Việt Nam của Quỹ Pháp luật châu Âu lục địa (Fondation pour le droit continental);

- Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Việt Nam tại Viện Quốc tế pháp luật so sánh (International Academy of Comparative law);

- Thành viên Nhóm nghiên cứu quốc tế của Trung tâm Pháp luật kinh tế thuộc Đại học Paul Cézannes (Cộng hòa Pháp);

- Thành viên đề tài nghiên cứu về Phát triển án lệ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm chủ nhiệm.

 

LỜI TÁC GIẢ

 

Khi văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ và rõ ràng cho từng hoàn cảnh cụ thể thì không cần đến các bản án vì lúc này chúng ta chỉ cần vận dụng những quy định đã tồn tại. Nói cách khác, khi văn bản quy phạm pháp luật đã hoàn thiện thì các bản án không có nhiều vai trò. Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh văn bản quy phạm pháp luật không bao giờ đầy đủ, rõ ràng và chi tiết cho từng hoàn cảnh cụ thể (cho dù Quốc hội cũng như Chính phủ cố gắng thế nào đi chăng nữa[1]) và đối với một vấn đề pháp lý thường có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí là trái chiều nhau (nhất là trong giới Luật sư, giới giảng dạy, nghiên cứu). Đối với những vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau hay trái chiều nhau như trên, Tòa án vẫn đưa ra hướng giải quyết của mình.

 Thực ra, cũng như Luật sư hay nhà nghiên cứu và thậm chí cả Viện kiểm sát, cơ quan tài phán có quan điểm riêng của mình trước những vấn đề pháp lý còn gây tranh cãi. Tuy nhiên, khác với đối tượng vừa nêu, cơ quan tài phán được pháp luật trao quyền đưa ra hướng giải quyết cuối cùng và ràng buộc các chủ thể liên quan. Điều 106 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam rất rõ về chủ đề này khi quy định rằng “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Chính vì các yếu tố trên (sự không hoàn thiện của văn bản và tính ràng buộc của quyết định của cơ quan tài phán) mà đường lối giải quyết của Tòa án trong các bản án rất được quan tâm (quan điểm hay đường lối giải quyết của cơ quan tài phán được quan tâm nhiều hơn quan điểm của các đối tượng khác).

Với kinh nghiệm 13 năm nghiên cứu và bình luận bản án trong thời gian học tập, nghiên cứu và giảng dạy tại Cộng hòa Pháp và khoảng 10 năm công tác tại trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã sưu tầm, tuyển chọn được khoảng 240 bản án của Tòa án Việt Nam để công bố trong cuốn chuyên khảo này cùng với bình luận do chính tác giả thực hiện. Với những bản án và lời bình luận, cuốn chuyên khảo sẽ cung cấp cho bạn đọc một lượng kiến thức lớn (văn bản, thực tiễn xét xử, quan điểm của các tác giả, pháp luật nước ngoài từ góc nhìn so sánh cũng như quan điểm của tác giả) về hợp đồng: từ nguồn điều chỉnh đến giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng, người quan tâm đều tìm thấy những thông tin bổ ích trong cuốn chuyên khảo này.

Khác với những bản án được Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao công bố trong những năm gần đây, các bản án mà chúng tôi tuyển chọn và bình luận bao gồm cả bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm bên cạnh một số quyết định giám đốc thẩm (gọi chung là bản án). Tiêu chí tuyển chọn các bản án ở đây không dựa vào chất lượng xét xử của các thẩm phán mà chủ yếu dựa vào vấn đề pháp lý của vụ việc mà Tòa án đã giải quyết. Về nội dung bình luận, chúng tôi không bình luận “vụ án” mà bình luận “bản án”. Bởi lẽ, việc khai thác toàn bộ “vụ án” là rất khó, mất nhiều thời gian trong khi đó “bản án” là “nội dung cô đọng” của vụ án được Tòa án thể hiện trong quyết định của mình. Khi bình luận, chúng tôi còn sử dụng, trích dẫn nhiều bản án khác để làm sáng tỏ một số vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng. Lưu ý là một bản án có thể có nhiều vấn đề pháp lý nói chung hay về hợp đồng nói riêng nhưng phần bình luận chỉ phân tích một vài khía cạnh điển hình của hợp đồng.

Tổng thể cuốn sách có nhiều chủ đề khác nhau và chia thành những mảng vấn đề lớn (chỉ là tương đối). Cụ thể, từ Bản án đầu tiên đến hết Bản án số 20-22, cuốn chuyên khảo giới thiệu Nguồn của pháp luật hợp đồng Việt Nam ; từ Bản án số 23-25 đến hết Bản án số 165-167, cuốn sách tập trung vào Xác lập hợp đồng ; và từ Bản án 168-171 trở đi là những phân tích về Thực hiện, xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng và những vấn đề khác.

Trong cuốn chuyên khảo này, chúng tôi có hai phần phụ lục. Phụ lục ở phần đầu cho phép người đọc biết được những chủ đề lớn. Ngoài ra, cuốn chuyên khảo còn có phần phụ lục ở phần cuối và đây là điểm khác biệt so với phần lớn các tài liệu hiện nay nên đã có một số thắc mắc của bạn đọc. Chúng tôi xin lưu ý đó là mục lục theo chữ cái đối với những vấn đề cụ thể liên quan đến hợp đồng. Trong trường hợp bạn đọc chỉ cần một số thông tin mà không muốn đọc một chủ đề lớn hay cả cuốn sách, bạn đọc chỉ cần xem chỉ dẫn ở phần cuối để có thông tin cần tìm kiếm.

Mỗi đoạn của phần bình luận được đánh số để phục vụ cho việc tra cứu trong phần mục lục theo chữ cái. Bên cạnh đó, ở trước mỗi đoạn bình luận, chúng tôi có một số từ vựng in đậm. Các từ vựng này là nội dung tóm tắt sơ lược ý chính của đoạn bình luận; nó mang tính định hướng người đọc vào chủ đề của đoạn bình luận. Cách trình bày này không phổ biến ở Việt Nam hiện nay nhưng rất phổ biến ở một số nước châu Âu.

Những bản án được công bố, bình luận hay trích dẫn trong cuốn sách này và trong cuốn chuyên khảo Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ- Bản án và bình luận bản án, Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại và cuốn Tư pháp quốc tế Việt Nam là kết quả của việc sưu tập từ Bắc đến Nam. Những cuốn sách này có lẽ sẽ không tồn tại nếu không có sự giúp đỡ nhiệt tình của những người làm trong thực tiễn. Do vậy, tác giả một lần nữa cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này.

Xin chân thành cảm ơn các anh, chị, em, các chú làm việc tại Tòa án nhân dân tối cao, nhất là chú Lượng, chú Minh, anh Sơn, anh Cường, anh Hiệp, anh Khanh, anh Tĩnh, anh Quang, chị An, chị Huế, chị Lạc, chị Tám, em Hằng, em Nam, em Nguyện, em Thắng, em Phúc. Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các chú, anh, chị, em đang làm việc tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nhất là chú Cơ, anh Khánh, anh Oanh, anh Kha, anh Hữu, anh Tuấn, anh Quảng, anh Lanh, anh Hòa, chị Hằng, chị Chi, chị Thúy, em Hải, em Huyền.

Tác giả cũng không quên cảm ơn anh Đoàn, anh Thanh (Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh), anh Hưng (Học viện tư pháp), em Huyền, em Thu, em Thuỷ (Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội), chị Hiền, anh Sáng (Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa), chị Nga (Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi), anh Tự (Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng), em Tài (Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tây Ninh); chị Chinh, chị Hương, anh Phú, anh Quý, em Bình, em Đào, em Hiếu, em Nguyên, em Phước, em Thủy (Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh); em Quỳnh Phương (Pricewaterhousecoopers); anh Dũng, anh Quang, em Hưng, em Hà (Văn phòng YKVN); em Trương Tín và Huy Phát (Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh); em Dung, em Khoa, em Trang, anh Trạch, chị Lan cùng các bạn học viên Cao học Luật thuộc Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; chị Hạnh, anh Tuyến (Bộ Tư pháp), anh Thanh Hiếu, anh Tuấn (Đại học Luật Hà Nội); anh Dương, em Bắc, em Dương, em Ngọc, em Đạt, em Hiếu (Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam), anh Thông Anh, anh Nết và các anh chị lớp tại chức, cao học Lâm Đồng, Kon Tum, Khánh Hòa, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tiền Giang, Sóc Trăng, thành phố Hồ Chí Minh...

Trong lần xuất bản này, cuốn sách đã nhận được sự giúp đỡ của em Hạnh (Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định) trong việc rà soát bản thảo. Tác giả cũng xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ quý báu này.

 

TP. Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2018

 

PGS. TS. ĐỖ VĂN ĐẠI

 


MỤC LỤC

 

Lời tác giả. 4

Phần I - Nguồn của pháp luật hợp đồng...................................... 12

Bản án số 1 và 2. 13

Bộ luật dân sự và phạm vi áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng. 13

Bản án số 3. 32

Quy định quốc tế và quy định quốc nội 32

Bản án số 4 và 5. 41

Tập quán trong nước và thói quen. 41

Bản án số 6 và 7. 66

Tập quán quốc tế. 66

Bản án số 8, 9 và 10. 83

Áp dụng tương tự pháp luật 83

Bản án số 11. 101

Nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận. 101

Bản án số 12, 13 và 14. 109

Nguyên tắc thiện chí và trung thực. 109

Bản án số 15, 16 và 17. 128

Xác lập hợp đồng có dấu hiệu phạm tội hình sự. 128

Bản án số 18 và 19. 144

Án lệ trong lĩnh vực hợp đồng. 144

Bản án số 20, 21 và 22. 164

Xung đột pháp luật về thời gian trong lĩnh vực hợp đồng. 164

Phần II - Xác lập hợp đồng........................................................ 184

Bản án số 23, 24 và 25. 187

Đề nghị giao kết hợp đồng. 187

Bản án số 26, 27 và 28. 209

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. 209

Bản án số 29, 30, 31 và 32. 226

Hợp đồng có điều kiện phát sinh. 226

Bản án số 33 và 34. 249

Vai trò của chữ ký trong giao kết hợp đồng. 249

Bản án số 35, 36 và 37. 258

Xác lập, thực hiện hợp đồng thông qua đại diện. 258

Bản án số 38, 39, 40 và 41. 293

Xung đột lợi ích trong quan hệ đại diện. 293

Bản án số 42 và 43. 315

Phạm vi đại diện xác lập giao dịch, hợp đồng. 315

Bản án số 44, 45, 46 và 47. 331

Hợp đồng do người không có đại diện xác lập. 331

Bản án số 48, 49, 50 và 51. 364

Năng lực pháp luật dân sự xác lập hợp đồng. 364

Bản án số 52 và 53. 385

Trường hợp hợp đồng vô hiệu. 385

Bản án số 54 và 55. 399

Hợp đồng do người chưa thành niên xác lập. 399

Bản án số 56, 57 và 58. 423

Hợp đồng do người không có nhận thức xác lập. 423

Bản án số 59, 60 và 61. 441

Hợp đồng của người không biết chữ. 441

Bản án số 62, 63 và 64. 457

Nghĩa vụ cung cấp thông tin. 457

Bản án số 65, 66 và 67. 478

Nhầm lẫn trong giao kết hợp đồng. 478

Bản án số 68 và 69. 516

Lừa dối trong giao kết hợp đồng. 516

Bản án số 70 và 71. 541

Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn hay do lừa dối 541

Bản án số 72 và 73. 553

Đe dọa trong giao kết hợp đồng. 553

Bản án số 74, 75 và 76. 577

Hợp đồng vi phạm điều cấm.. 577

Bản án số 77 và 78. 598

Hợp đồng trái đạo đức xã hội 598

Bản án số 79, 80 và 81. 612

Hợp đồng sử dụng ngoại tệ. 612

Bản án số 82, 83, 84 và 85. 636

Lãi theo thỏa thuận quá cao so với quy định. 636

Bản án số 86, 87 và 88. 666

Giả tạo trong giao kết hợp đồng. 666

Bản án số 89, 90, 91 và 92. 688

Xác lập hợp đồng nhằm tẩu tán tài sản. 688

Bản án số 93, 94, 95 và 96. 726

Đứng tên giùm mua bất động sản. 726

Bản án số 97, 98, 99 và 100. 761

Hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được. 761

Bản án số 101 và 102. 790

Tự do về hình thức của hợp đồng. 790

Bản án số 103 và 104. 801

Yêu cầu hợp đồng phải được lập thành văn bản. 801

Bản án số 105, 106 và 107. 812

Yêu cầu hợp đồng phải được công chứng, chứng thực. 812

Bản án số 108, 109, 110 và 111. 831

Yêu cầu hợp đồng phải đăng ký. 831

Bản án số 112 và 113. 855

Yêu cầu hợp đồng phải xin phép. 855

Bản án số 114, 115 và 116. 864

Xử lý hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức. 864

Bản án số 117, 118 và 119. 883

Hợp đồng vô hiệu một phần/toàn bộ. 883

Bản án số 120, 121 và 122. 906

Hợp đồng chính, hợp đồng phụ vô hiệu. 906

Bản án số 123, 124 và 125. 933

Khôi phục lại tình trạng ban đầu khi hợp đồng vô hiệu. 933

Bản án số 126, 127 và 128. 952

Không hoàn trả được bằng hiện vật khi hợp đồng vô hiệu. 952

Mục lục theo chữ cái 971



[1]. Bộ luật dân sự 2015 được đầu tư rất nhiều và kế thừa Bộ luật dân sự 2005 (kế thừa Bộ luật dân sự 1995) nhưng các nhà lập pháp vẫn thừa nhận có những trường hợp “pháp luật không quy định” (khoản 2 Điều 5), “pháp luật không có quy định” (khoản 1 Điều 6).

  • Số lượng: 
  • Đã hết hàng
Bình luận

Tìm kiếm sách


Tìm kiếm nâng cao

Giỏ hàng

0 Sản phẩm Tính theo cước bưu điện

GO TO CART

Video giới thiệu

Form đăng nhập

Quảng cáo